Đẩy mạnh khoa học công nghệ, nâng cao năng lực ngành chăn nuôi và thú y
(Thế giới Gia cầm) – Sáng 28/3, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất chính thức khai mạc với sự tham dự của khoảng 750 đại biểu.
Hội nghị do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, với sự phối hợp tổ chức của Vụ Khoa học và Công nghệ, Cục Chăn nuôi và Thú y và Báo Nông nghiệp và Môi trường. Tham dự hội nghị có lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, các nhà khoa học, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và tổ chức quốc tế.

Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: Tùng Đinh
Đây là lần đầu tiên một hội nghị khoa học công nghệ quy mô quốc gia được tổ chức riêng cho lĩnh vực chăn nuôi và thú y – một trong những trụ cột quan trọng của ngành nông nghiệp, hiện đóng góp khoảng 26–28% giá trị sản xuất toàn ngành. Sự kiện được đánh giá là dấu mốc quan trọng, thể hiện quyết tâm đưa khoa học công nghệ trở thành động lực phát triển chính, hướng tới nền chăn nuôi hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh cao.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và quản trị hiện đại.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh ngày càng gay gắt, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò then chốt, giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, kiểm soát dịch bệnh và tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến phát biểu. Ảnh: Tùng Đinh
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, thực tiễn những năm qua cho thấy các tiến bộ trong chọn tạo giống, dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, công nghệ vaccine, công nghệ sinh học và hệ thống quản lý dịch bệnh đã góp phần quan trọng trong nâng cao hiệu quả sản xuất, đảm bảo an toàn dịch bệnh và cải thiện chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Nhiều mô hình chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao, chăn nuôi an toàn sinh học, chăn nuôi tuần hoàn đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi và thú y vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức như phụ thuộc vào nguồn giống và vật tư nhập khẩu, nguy cơ dịch bệnh luôn tiềm ẩn, yêu cầu đảm bảo an toàn thực phẩm ngày càng cao, cùng với áp lực giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
“Dư địa tăng trưởng của ngành còn rất lớn nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao và lợi thế từ 17 hiệp định thương mại tự do, song ngành cũng đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, chăn nuôi nhỏ lẻ. Vì vậy, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ là giải pháp then chốt để tái cấu trúc ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.
Ngay sau lễ khai mạc, hội nghị bước vào phiên toàn thể với nhiều nội dung quan trọng. Các đại biểu đã nghe báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y giai đoạn 2021–2025, đồng thời thảo luận định hướng xây dựng chương trình khoa học công nghệ trọng tâm giai đoạn 2026–2030.
Các tham luận tại phiên toàn thể tập trung vào những vấn đề cốt lõi của ngành như phát triển giống vật nuôi chất lượng cao, công nghệ dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh, phát triển vaccine, kiểm soát kháng kháng sinh, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số trong quản lý sản xuất.
Nhiều chuyên gia cho rằng việc làm chủ công nghệ giống và vaccine có ý nghĩa quyết định đối với năng lực tự chủ của ngành chăn nuôi Việt Nam, giúp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao khả năng ứng phó với dịch bệnh.
Hội nghị cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ sản xuất dựa vào kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên dữ liệu, công nghệ và quản trị rủi ro, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất và đảm bảo phát triển bền vững.
Chiều cùng ngày, hội nghị tổ chức 6 phiên chuyên đề song song, tạo không gian trao đổi chuyên sâu giữa các nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp. Các phiên chuyên đề tập trung vào khoa học và công nghệ về lợn; gia cầm; gia súc nhai lại và các đối tượng vật nuôi khác; khoa học và công nghệ về sức khỏe vật nuôi; công nghệ vaccine và sinh phẩm thú y; kháng kháng sinh, an toàn thực phẩm và các vấn đề liên quan.
Tại các phiên thảo luận, nhiều công nghệ mới và mô hình hiệu quả đã được chia sẻ, từ ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống, phát triển thức ăn chăn nuôi thân thiện môi trường đến các giải pháp kiểm soát dịch bệnh và nâng cao an toàn sinh học trong chăn nuôi.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh vai trò của hệ thống thú y cơ sở trong giám sát dịch bệnh, kiểm soát kháng sinh và đảm bảo an toàn thực phẩm, coi đây là yếu tố quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng sản phẩm chăn nuôi.
Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất. Theo đó, cần có cơ chế thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng cường hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, đồng thời xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y.
Song song với các phiên làm việc, hội nghị còn tổ chức khu trưng bày sản phẩm, công nghệ và thành tựu khoa học công nghệ với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Khu trưng bày trở thành điểm kết nối giữa nghiên cứu và sản xuất, tạo điều kiện để các bên gặp gỡ, trao đổi và tìm kiếm cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ.
Thông qua các nội dung thảo luận, hội nghị đã đề ra nhiều định hướng lớn cho giai đoạn tới như phát triển giống vật nuôi chất lượng cao và làm chủ công nghệ; đổi mới công nghệ thức ăn nhằm giảm chi phí sản xuất; nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh và phát triển vaccine; kiểm soát kháng kháng sinh, đảm bảo an toàn thực phẩm; thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ thống dữ liệu ngành; phát triển chăn nuôi theo hướng kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Các chuyên gia nhận định, nếu được triển khai đồng bộ, những định hướng này sẽ giúp ngành chăn nuôi và thú y Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ, tăng khả năng thích ứng với biến động thị trường và biến đổi khí hậu, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Ngọc Ánh
