Bổ sung thảo dược trong phòng chống bệnh hô hấp ở gà
(Thế Giới Gia Cầm) – Bệnh hô hấp ở gà thường dai dẳng, dễ tái phát và không chỉ xuất phát từ một mầm bệnh. Chuồng nuôi thông thoáng kém, nền ẩm, bụi, khí NH3 cao, mật độ dày, thời tiết thay đổi, dinh dưỡng và sức khỏe đàn đều có thể làm gia tăng nguy cơ. Vì vậy, phòng bệnh cần bắt đầu từ kiểm soát môi trường và quản lý đàn, thay vì chỉ dựa vào thuốc (Swayne, 2020).
Đường hô hấp của gà rất nhạy với môi trường. Mũi, khí quản và túi khí hằng ngày phải tiếp xúc với bụi, hơi ẩm, mảnh chất độn, vi sinh vật, nấm, phân khô và khí độc. NH3 làm cay mắt, chảy nước mắt, kích thích niêm mạc mũi – khí quản, làm giảm sức bảo vệ tại chỗ và mở đường cho vi khuẩn kế phát.
Bụi chuồng mang theo chất hữu cơ và mầm bệnh, gây kích thích kéo dài. Khi gặp gió lùa, rét đột ngột, nồm ẩm hoặc nóng ẩm, lớp niêm mạc vốn đã yếu càng dễ tổn thương. Bệnh hô hấp vì thế thường kéo dài, chữa dứt triệu chứng rồi vẫn tái phát nếu chuồng vẫn bí, nền vẫn ẩm và khí độc vẫn cao (Bộ NN&PTNT, 2010; Liu et al., 2020).
Dùng kháng sinh đúng quy định
Kháng sinh có vai trò trong điều trị bệnh hô hấp khi xác định có nhiễm khuẩn và tác nhân còn mẫn cảm. Sử dụng đúng thuốc, đúng liều và đủ thời gian có thể giúp kiểm soát bệnh, bảo vệ đàn. Tuy nhiên, kháng sinh không tác động lên virus và không thể thay thế các biện pháp cải thiện điều kiện chuồng nuôi như giảm ẩm, kiểm soát NH3, bụi và mật độ đàn. Việc sử dụng kháng sinh theo thói quen mỗi khi gà có biểu hiện hô hấp không chỉ làm tăng chi phí mà còn gia tăng nguy cơ kháng thuốc và tồn dư trong sản phẩm (Ghimpețeanu et al., 2022). Giảm sử dụng kháng sinh không đồng nghĩa với bỏ điều trị, mà là hạn chế dùng thuốc khi chưa xác định nguyên nhân và chưa khắc phục các yếu tố bất lợi trong chuồng nuôi.
Thảo dược vai trò hỗ trợ
Thảo dược có thể được sử dụng như một giải pháp hỗ trợ trong phòng bệnh và phục hồi sức khỏe đàn. Tuy nhiên, thảo dược không thay thế chẩn đoán thú y, vaccine hoặc kháng sinh trong trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Một số hoạt chất từ thảo dược có thể góp phần làm giảm kích thích nhẹ ở đường hô hấp, hỗ trợ phản ứng viêm và nâng cao sức chống chịu của đàn. Việc lựa chọn cần dựa trên loại cây, dạng sử dụng, liều lượng và thời điểm phù hợp, tránh xem thảo dược như giải pháp thay thế hoàn toàn cho điều trị.

Nhóm cây giàu tinh dầu như sả, bạc hà, húng quế, hương nhu, khuynh diệp, quế, hồi và gừng được quan tâm trong hỗ trợ sức khỏe đường hô hấp. Các hoạt chất dễ bay hơi có thể góp phần làm giảm kích thích nhẹ và hỗ trợ duy trì trạng thái thông thoáng của đường hô hấp trên. Tuy nhiên, không nên đồng nhất tác dụng này với cơ chế long đờm ở người. Trong thực tế, nhóm sản phẩm này phù hợp hơn với mục đích hỗ trợ khi đàn có biểu hiện hắt hơi, chảy nước mũi hoặc khò khè nhẹ.
Việc sử dụng tinh dầu cần đặc biệt thận trọng về nồng độ và phương pháp áp dụng. Nồng độ cao, phun trong chuồng kín hoặc sử dụng trực tiếp lên đàn đang khó thở có thể làm tăng kích ứng đường hô hấp (Zeng et al., 2015).
Nhóm thứ hai là cây hỗ trợ phản ứng viêm và phục hồi niêm mạc, gồm nghệ, gừng, xuyên tâm liên, diếp cá, cam thảo và tía tô. Curcumin trong nghệ, gingerol trong gừng, andrographolide trong xuyên tâm liên và nhiều flavonoid trong cây thuốc có tác dụng chống ôxy hóa, điều hòa phản ứng viêm ở mức hỗ trợ (Bộ Y tế, 2017; Đỗ Huy Bích et al., 2006). Những cây này không tiêu diệt mầm bệnh nguy hiểm, nhưng có thể giúp cơ thể gà giảm tổn thương thứ phát, nhất là sau vaccine, sau thay đổi thời tiết, sau vận chuyển hoặc sau một đợt hô hấp nhẹ.
Nhóm thứ ba là cây hỗ trợ miễn dịch chung và tiêu hóa như tỏi, gừng, nghệ, quế, chè xanh, diệp hạ châu. Bệnh hô hấp không chỉ ảnh hưởng đến đường hô hấp mà còn có thể kéo theo giảm ăn, giảm uống, rối loạn tiêu hóa và suy giảm thể trạng. Do đó, duy trì đường ruột ổn định, cung cấp nước sạch và khẩu phần đáp ứng đầy đủ Vitamin A, Vitamin E, khoáng chất và axit amin thiết yếu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đàn phục hồi.
Sử dụng đúng cách
Lợi thế của Việt Nam là có nhiều cây tinh dầu và cây thuốc nhiệt đới như sả, hương nhu, bạc hà, quế, hồi, gừng, nghệ, tỏi, xuyên tâm liên, diếp cá, tía tô. Tuy nhiên, không thể sử dụng hoặc phối trộn tùy ý. Đàn có biểu hiện hô hấp nhẹ có thể ưu tiên nhóm tinh dầu dịu, liều thấp, dùng ngắn ngày; đàn sau vaccine hoặc biến động thời tiết phù hợp hơn với nhóm hỗ trợ chống ôxy hóa, niêm mạc và sức chống chịu. Với đàn hô hấp tái phát, cần điều chỉnh thông gió, nền chuồng và mật độ trước; thảo dược chỉ đóng vai trò hỗ trợ.
Dạng sử dụng cần phù hợp với điều kiện chăn nuôi. Bột thảo dược hoặc premix trộn thức ăn thích hợp dùng theo đợt, trong khi dạng nước uống phù hợp khi cần tác động nhanh hơn. Với hệ thống núm uống, nên sử dụng sản phẩm tan hoàn toàn; nước sắc tự làm cần lọc kỹ, dùng trong ngày và không để cặn gây bẩn hoặc tắc đường ống.
Tinh dầu bay hơi hoặc phun hỗ trợ môi trường chỉ là biện pháp phụ. Có thể sử dụng ở nồng độ thấp, thời gian ngắn và trong chuồng thông thoáng để hỗ trợ giảm mùi, làm dịu kích thích nhẹ. Không dùng tinh dầu thay thế thông gió, không phun đậm trong chuồng kín hoặc vào đàn đang há mỏ, vươn cổ thở. Kiểm soát bệnh hô hấp vẫn phải bắt đầu từ chuồng thông thoáng, nền khô, giảm bụi, quản lý tốt phân và duy trì mật độ phù hợp.
Khi đàn đã bệnh, cần đánh giá mức độ trước khi sử dụng thảo dược. Trường hợp biểu hiện nhẹ, đàn vẫn ăn uống và tỷ lệ chết thấp, có thể kết hợp biện pháp hỗ trợ với cải thiện thông gió, làm khô nền và theo dõi sát. Nếu bệnh lan nhanh, chết tăng, sưng mặt rõ, khó thở hoặc giảm ăn mạnh, cần chẩn đoán thú y và xử lý theo nguyên nhân; thảo dược chỉ có vai trò hỗ trợ, không được làm chậm điều trị.
Về lâu dài, cần chuyển từ sử dụng cây thuốc riêng lẻ sang phát triển sản phẩm có tiêu chuẩn về loài, vùng nguyên liệu, hoạt chất, liều an toàn, độ ổn định và hiệu quả thực địa. Các chỉ tiêu như tỷ lệ ho khò khè, lượng ăn, tăng trọng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ chết, số ngày dùng kháng sinh và chi phí cần được đánh giá cụ thể. Sử dụng đúng, thảo dược có thể góp phần giảm phụ thuộc vào kháng sinh; sử dụng sai chỉ tạo cảm giác an tâm trong khi các yếu tố nguy cơ như chuồng bí, nền ẩm, bụi và khí độc vẫn chưa được khắc phục.
PGS.TS Bùi Hữu Đoàn
